Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

8 bài thuốc từ thảo dược giúp xóa nếp nhăn

Bạn có thể hoàn toàn thực hiện ước mơ “xoá mờ dấu vết thời gian” bằng các thảo dược, linh dược từ thiên nhiên. Xin giới thiệu 8 bài thuốc xóa nếp nhăn từ thảo dược để chị em tham khảo.

1. Vỏ quất 100g, rượu trắng 300g

Đem vỏ quất giã nát ngâm vào rượu trắng, 1 tuần sau dùng làm cao bôi vào mặt trước khi đi ngủ.

Tác dụng: nhuận da, có thể mất nếp nhăn, dung nhan trở nên đẹp.

nep nhan, bai thuoc xoa nep nhan

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa (nguồn Internet)

2. Quả bưởi tươi 1 quả, rượu trắng lượng vừa phải. Đem bưởi tươi cắt thành miếng, ngâm vào rượu trắng, 1 tuần sau bôi xoa vào mặt, dùng lâu dài có thể làm mất nếp nhăn.

3. Trứng gà sống 5 -10 quả, rượu trắng lượng vừa phải. Đem trứng gà ngâm vào rượu trắng, đậy kín trong 28 ngày để dùng. Mỗi tối đem lòng trắng trứng bôi lên mặt.

nep nhan, bai thuoc xoa nep nhan tu trung ga

4. Chân giò lợn nái già vài chiếc, nấu thành cao. Buổi tối trước khi đi ngủ rửa mặt thật sạch rồi bôi vào mặt, sáng sớm hôm sau rửa đi. Dùng nửa tháng là có thể mất hết nếp nhăn.

5. Nước ép lô hội 1 thìa canh, 1 lòng trắng trứng gà, tất cả trộn đều, tối đến sau khi rửa mặt, lấy thuốc bôi lên mặt, đồng thời dùng tay mát-xa da mặt. Dùng một thời gian sẽ hiệu quả.

6. Lòng đỏ trứng gà 1 cái, 1 thìa rưỡi mật ong, 1 thìa rưỡi bột mì. Tất cả trộn đều, bôi vào mặt, sau 10 -15 phút, lấy nước ấm rửa sạch, lấy hai tay mát-xa mặt trong 5 phút, rồi dùng vải màn lau sạch, khoảng 3 tháng thì các nếp nhăn nhỏ sẽ biến mất.

nep nhan, bai thuoc xoa nep nhan tu mat ong

7. Mộc qua 60g, mật ong 30g, hạnh nhân 30g. Đem mộc qua gọt vỏ, chỉ để lại nhân hạt, cùng giã chung với hạnh nhân, rồi thêm mật ong vào, trộn đều, mỗi đêm đem bôi mặt, khoảng 10 ngày sau là nếp nhăn mất hết.

8. Nước mướp 30g, mật ong 20g, rượu trắng 15ml. Tất cả trộn đều, bôi lên da, đợi sau khi khô, dùng nước trong lau sạch, mỗi ngày 1-2 lần.

Lưu ý: một số người có cơ địa dị ứng với rượu, không nên dùng những bài có rượu.

TS. BSCKII. Trần Lập Công

Cách đơn giản tự chữa viêm xoang

Viêm xoang là bệnh rất phổ biến ở nước ta. Nguyên nhân chủ yếu do viêm mũi, cảm cúm, đôi khi do viêm họng; do tắm, chấn thương, do áp lực thay đổi đột ngột khi đi máy bay, dị vật ở mũi, do biến chứng của các bệnh cúm, sởi, ho gà, viêm phổi do phế cầu khuẩn… Niêm mạc vùng xoang bị viêm, sung huyết, tăng tiết chất nhầy làm tắc nghẽn sự lưu thông của xoang. Sau đây là một số cách chữa viêm xoang đơn giản tại nhà:

Hít hơi nóng: nấu nước lá bạc hà xông cả người hoặc múc ra 1 bát nước lớn xông tỏa hơi, hít hơi nóng tỏa lên, đầu phủ một khăn tắm lớn. Có thể thay thế bó lá xông bằng nhỏ vài giọt dầu gió hoặc dầu có bạc hà, quế vào bát nước sôi để xông; cũng có tác dụng tương tự.

Day bóp miết hai bên sống mũi.

Rửa hốc mũi bằng nước muối sinh lý: rửa mũi xoang bằng nước muối sinh lý 0,9% có bán tại các hiệu thuốc hay tự pha 1 thìa cà phê muối vào 2 tách nước ấm kèm theo 1 nhúm bicarbonate. Rót nước muối vào 1 bát đủ rộng, ngửa đầu ra sau, bịt một bên lỗ mũi, hít nước vào lỗ mũi bên kia rồi nhẹ nhàng hỉ mũi ra. Đổi bên lỗ mũi và cũng làm tương tự. Xỉ mũi phải đúng cách, nên xỉ mỗi lần từng bên lỗ mũi, không nên xỉ hai bên lỗ mũi cùng một lúc vì sẽ làm tăng áp suất ở tai trong, đưa ngược vi khuẩn vào sâu hơn trong xoang.

Xoa bóp hai bên sống mũi: dùng ngón cái, ngón trỏ day bóp hai bên đầu xương sống mũi, bấm huyệt nghinh hương, thái dương và rãnh nhân trung từ 5-10 phút. Huyệt nghinh hương ở phía ngoài chân cánh mũi cách mũi 0,5cm; huyệt thái dương nằm ở chỗ lõm 2 bên thái dương cách 2 bên đuôi mắt khoảng 1,5cm.

Các món cháo, canh thuốc tốt cho người viêm xoang:

Cháo lá dâu, hoa cúc: lá dâu 9g, hoa cúc 6g, hạnh nhân ngọt 9g, gạo tẻ 60g. Lá dâu, hoa cúc cho vào nước nấu thành canh rồi bỏ bã, cho gạo đã vo sạch và hạnh nhân ngọt vào nấu thành cháo. Ngày dùng một lần, liên tục 2-3 ngày. Trị viêm xoang mũi mạn tính do phong nhiệt.

Đầu cá mè nấu hoa hiên: đầu cá mè 100g, hoa hiên 30g, táo tầu 15 quả, bạch truật 15g, ké đầu ngựa 10g, bạch chỉ 10g, gừng sống 3 lát. Đầu cá rửa sạch, bắc chảo đun sôi mỡ, rán qua 2 mặt, cho vào nồi. Táo lọc bỏ hạt rửa sạch cho tất cả các thứ vào nồi cùng với đầu cá nấu canh. Ăn cá uống canh, kèm trong bữa cơm Tác dụng: phù chính trừ tà thông khiếu, trị viêm xoang mũi thuộc dạng co hẹp.

Cá mè

Hoa Hiên

Nước mai rùa, thục địa: mai rùa 5g, thục địa 9g, trần bì 6g, mật ong liều lượng thích hợp. Cho các vị thuốc vào ấm sắc rồi uống với mật ong, mỗi ngày một thang, liền trong 4-5 ngày.

Nước cây cứt lợn: chọn lấy cây tươi về ngâm rửa sạch rồi để ráo, giã nát vắt lấy nước, dùng bông tẩm nước thuốc nhét vào lỗ mũi bên đau khoảng 15-20 phút. Rút bông ra để dịch mủ từ trong xoang mũi chảy ra ngoài rồi xì nhẹ nhàng.Tránh xì mũi mạnh vì lúc đó mủ từ trong mũi xoang có thể đi qua đường nối thông giữa mũi và tai (gọi là vòi nhĩ) gây viêm tai giữa cấp. Tác dụng: chống viêm, chống phù nề, chống dị ứng trong cả đợt cấp và mạn tính.

Lương y: Nguyễn Minh

Mùa xuân nên ăn rau hẹ

Tục ngữ đã nói: “Ăn hẹ xuân thì thơm, ăn hẹ hè thì thối”. Mùa xuân thời tiết nóng lạnh bất thường cơ thể cần phải bảo dưỡng dương khí, mà rau hẹ lại có tính ôn nên rất thích hợp trong việc ôn bổ dương khí, bởi vậy hẹ còn được gọi là “rau khởi dương”. Rau hẹ khá giàu chất dinh dưỡng bao gồm đường, đạm, mỡ, caroten, vitamin B, C, chất xơ, canxi, photpho, sắt,… đặc biệt còn chứa nhiều hoạt chất có tính kháng khuẩn, tiêu viêm. Rau hẹ mềm mại, có mùi thơm đặc biệt, vị lại hơi cay nên rất dễ ăn, được dùng làm gia vị đồng thời làm rau ăn. Từ xa xưa, trong thành phần nhân bánh bao, vằn thắn, sủi cảo… không thể thiếu rau hẹ.

Rau hẹ bổ dương khí, dùng thích hợp trong mùa xuân.

rau hẹ xào

Rau hẹ bổ dương khí, dùng thích hợp trong mùa xuân.

Theo y học cổ truyền, rau hẹ vị ngọt cay, tính ấm, có công dụng ôn trung bổ hư, điều hoà phủ tạng, bổ thận ích dương. Với chứng dương hư thận yếu, liệt dương, di mộng tinh, lưng đau gối mỏi có thể lấy 250g lá hẹ, 60g nhân hồ đào, dùng dầu vừng xào chín, ăn trong ngày, dùng liên tục trong một tháng sẽ có công hiệu rất tốt. Với chứng tỳ vị hư hàn gây đi lỏng có thể lấy 100g gạo nấu thành cháo loãng rồi cho 60g lá hẹ tươi rửa sạch thái nhỏ vào quấy đều, ăn nóng mỗi ngày một thang, dùng 6 tháng liên tục có thể đạt được mục đích kiện tỳ chỉ tả.

Nghiên cứu hiện đại cho thấy, rau hẹ có nhiều chất xơ nên có tác dụng kích thích tiêu hóa, thúc đẩy nhu động ruột, phòng chống bệnh táo bón và sâu răng. Chất xơ trong loại rau này còn có khả năng cân bằng các nhóm vi khuẩn đường ruột, giảm thiểu tác động của các chất gây ung thư niêm mạc ruột, dự phòng tích cực bệnh ung thư đại tràng. Ngoài ra, rau hẹ còn có tác dụng hỗ trợ trị liệu tăng huyết áp và các bệnh cơ tim.

Lưu ý: Rau hẹ khó tiêu nên mỗi lần không ăn quá nhiều. Ngoài ra, những người có thể chất âm hư nội nhiệt, hay bị mụn nhọt và mắc các bệnh về mắt thì nên kiêng ăn rau hẹ. Người xưa khuyên không dùng loại rau này ăn cùng với mật ong và thịt bò.

Thạc sĩ Hoàng Khánh Toàn

Tẩm bổ vào mùa nóng nên hay không nên?

Khí hậu mùa hè viêm nhiệt, các hoạt động sự sống trỗi dậy, năng lượng và chất dinh dưỡng tiêu hao nhiều, bên cạnh cơ thể vã nhiều mồ hôi, chức năng tiêu hóa suy giảm.

Mồ hôi ra nhiều, làm cho phần nước và chất điện giải trong cơ thể mất mát nhiều

Càng cần tẩm bổ

Mùa hè, mồ hôi ra nhiều, làm cho phần nước và chất điện giải trong cơ thể mất mát nhiều, giảm dung lượng máu, độ quánh máu tăng cao, theo đó ảnh hưởng chức năng vận hành bình thường của tim mạch. Từ xưa, Đông y vốn có câu nói “máu, mồ hôi cùng nguồn”, vã nhiều mồ hôi tạo ra âm huyết, tân dịch trong cơ thể hư suy, xuất hiện các triệu chứng của âm huyết hư suy như: miệng khô lưỡi táo, đại tiện táo, tiểu ít, chóng mặt, hoa mắt…

Do huyết vi khí mẫu (huyết là mẹ khí), khí vi huyết soái (khí là chủ tướng của huyết), âm huyết hư suy tất gây ra khí hư. Mặt khác, do khí hậu viêm nhiệt, mạch máu giãn nở, lỗ chân lông giãn, vã nhiều mồ hôi không chỉ hao tổn tân dịch cơ thể, tất còn làm cho dương khí ngoại tiết. Vì thế, mùa nóng đặc biệt dễ mệt, nhất là sau khi vã mồ hôi, các biểu hiện của khí hư đều biểu hiện như: tay chân mất sức, tinh thần uể oải, tức ngực thở ngắn, hễ cử động thì vã mồ hôi, hồi hộp…

Do mùa hè khí hậu viêm nhiệt, tâm hỏa dễ thượng viêm. Đông y cho rằng hỏa vượng gây phiền để chỉ ra sự ảnh hưởng của thời tiết này đối với cơ thể. Cũng vì vã nhiều mồ hôi làm cho một số cơ năng thần kinh như sức tập trung, điều phối vận động, tốc độ phản xạ sẽ giảm xuống thấy rõ, thường xuyên xuất hiện các triệu chứng rối loạn thần kinh như ngủ không yên giấc về đêm, bối rối tâm phiền, choáng váng. Mùa hè ngày dài đêm ngắn, rất dễ làm đảo lộn đồng hồ sinh học trong cơ thể.

Ngày hè do thử nhiệt quá thịnh, hơn nữa thử nhiệt kèm thấp khí, rất dễ ảnh hưởng đến khí cơ của cơ thể lên xuống thấp thường, xuất hiện các vấn đề về cơ năng của tiêu hóa hấp thu. Thường gặp nhất là các chứng tiêu chảy hoặc táo bón, thậm chí sẽ xuất hiện nôn ói, đầy bụng… Ngày hè làm cho cơ thể tăng trao đổi chất, tiêu hao nhiều, tiêu hóa hấp thu của tỳ vị không theo kịp nhu cầu của cơ thể, một khi xảy ra rối loạn chức năng tỳ vị thì tình trạng càng tệ hơn.

Có người nói: “Tôi suốt ngày trong môi trường có máy lạnh, tại nhà có máy lạnh, chỗ làm có máy lạnh, kể cả ngồi trên xe cũng có máy lạnh, thời tiết nóng hơn cũng không ảnh hưởng đến tôi, thế nhưng, sao tôi cứ cảm thấy mỏi mệt?”. Thật ra, người ta đã hạ nhiệt từ đất, làm độ ẩm tăng cao, truyền nhiệt tăng nhanh, sẽ tổn hại và tiêu hao dương khí trong cơ thể, dẫn đến chức năng điều tiết thân nhiệt và miễn dịch bị rối loạn. Ngoài ra, do mùa hè ngày dài đêm ngắn, đã phá hủy quy luật làm việc và nghỉ ngơi của cơ thể, thời gian nghỉ ngơi giảm đi, trái lại tiêu hao tăng nhiều hơn so với các mùa khác, cho nên, ta cứ cảm thấy mỏi mệt hư nhược.

Đã có đủ lý do nói rằng, ngày hè cũng nên tẩm bổ, hơn nữa có thể nói rằng mùa hè càng nên tẩm bổ. Tất nhiên, phương pháp tẩm bổ mùa hè sẽ khác với mùa đông. Mùa đông tẩm bổ coi trọng cay ngọt trợ dương, ôn nhiệt tấn bổ; ngày hè tẩm bổ là chua ngọt hóa âm, dưỡng âm sinh tân, đồng thời chú trọng kiện tỳ thẩm thấp. Mùa lạnh thường dùng ôn bổ, mùa nóng lại thanh bổ mới ổn thỏa.

Những món ăn - bài thuốc

Có thể tận dụng liệu pháp ăn uống, thực bổ và dược bổ cùng đi chung, những bài nêu ra dưới đây:

Ba ba 1 con (khoảng 0,5 kg), mạch đông 20g, câu kỷ tử 20g, ngọc trúc 20g, rượu đế, gia vị vừa đủ. Ba ba giết mổ rửa sạch, sau khi trụng qua nước sôi thái lát nhỏ, thêm nước tiềm trong 1 giờ. Thêm mạch đông, câu kỷ tử, ngọc trúc và gia vị, rượu đế, dùng lửa nhỏ tiềm khoảng nửa giờ, đến khi thịt nhừ thì hoàn tất. Ba ba trong món ăn tư âm, thanh nhiệt hiệu quả tốt, được mệnh danh đứng đầu trong các thức ăn mang tính mát, rất bổ tinh huyết. Mạch đông, câu kỷ tử, ngọc trúc đều là những thứ tốt tư âm sinh tân (tạo thể dịch và nước). Không chỉ hiệu quả tư âm thanh bổ tốt, hơn nữa vị ngọt tươi ngon, không mang mùi thuốc, khẩu vị tốt, rất thích hợp cho người tẩm bổ mà sợ dùng thuốc.

Ba ba được mệnh danh đứng đầu trong các thức ăn mang tính mát, rất bổ tinh huyết

Nếu mùa nóng dễ mắc cảm, tinh thần uể oải, tiêu hóa kém dùng: hoàng kỳ 30g, thịt trâu 250g, củ mài (sơn dược) 250g, táo đỏ 30g, các gia vị như: rượu, muối… vừa đủ. Củ mài rửa sạch thái lát, táo đỏ rửa sạch để ráo. Thịt trâu sau khi rửa sạch trụng qua nước sôi, rửa sạch, sử dụng sau. Thịt trâu, hoàng kỳ cho vào nồi thêm nước, sau khi sôi chuyển lửa nhỏ nấu đến khi thịt chín, thêm táo đỏ, nấu khoảng 20 phút, lại thêm củ mài, nấu tiếp khoảng 15 phút, thêm gia vị thì hoàn tất. Hoàng kỳ bổ khí cố biểu hiệu quả rất tốt, nghiên cứu y học hiện đại đã chứng minh hoàng kỳ giúp tăng sức miễn dịch cơ thể để dự phòng mầm bệnh xâm nhập. Củ mài và táo đỏ cùng kiện tỳ ích vị mà trừ mỏi mệt. Thịt trâu giá trị dinh dưỡng rất cao, công hiệu bổ khí ngang với hoàng kỳ. Thường người ta cho rằng thịt trâu (bò) mang tính nóng, không thích hợp dùng trong mùa nóng. Tuy nhiên, thịt bò mang tính ấm, nhưng thịt trâu lại mang tính hơi mát, rất thích hợp dùng vào dịp hè. Cho nên, người bị khí hư vào ngày hè, có thể dùng món ăn này để tẩm bổ thường ngày.

Người hay mắc bệnh cảm ngày hè vì phế khí hư suy, chức năng phòng vệ suy giảm mà gây ra bệnh, có thể dùng món ăn để bổ ích phế khí, cường hóa chức năng phòng vệ: hoàng kỳ 300g, bạch truật 200g, phòng phong 100g. Tất cả vị thuốc tán mịn, trộn đều, mỗi lần dùng 6g, ngày 2 - 3 lần, uống với nước ấm. Dùng kiên trì sẽ thấy hiệu quả.

LY.DS. BÀNG CẨM

Xoa bóp trị tê tay

Bệnh nhẹ cảm thấy tê buốt như bị kim châm ở bàn tay, nặng hơn thì thấy đau nhiều, có khi bỏng rát và nhức nhối cả cẳng tay và cánh tay, tay yếu và tê cứng. Bệnh lâu ngày có thể gây teo cơ ô mô cái khiến khả năng cầm nắm yếu đi. Để dự phòng tích cực và hỗ trợ trị liệu chứng bệnh này người bệnh nên thực hành một số thao tác xoa bóp sau đây:

- Xát hai lòng bàn tay vào nhau, dùng lòng bàn tay bên này xát mu bàn tay bên kia sao cho nóng lên là được. Tiếp đó dùng các ngón tay bên này vê từng ngón tay bên kia và ngược lại.

huyệt hợp cốc

- Dùng ngón tay cái day các huyệt bát tà, mỗi huyệt chừng nửa phút. Vị trí huyệt bát tà: nằm ở kẽ ngón tay, trên đường tiếp giáp da gan tay và mu tay, ngang với khe khớp xương bàn tay và ngón tay.

- Dùng ngón tay cái day ấn huyệt hợp cốc trong 1 phút với một lực vừa phải. Vị trí huyệt hợp cốc: ở chỗ lõm giữa xương bàn tay thứ nhất và thứ hai (ngón cái và ngón trỏ), dùng ngón tay cái ấn men theo bờ xương bàn tay thứ hai tìm điểm khi ấn có cảm giác đau tức lan sang ngón tay út thì đó là vị trí của huyệt.

- Dùng ngón tay cái day ấn các huyệt dương trì (tại khớp cổ tay phía mu, thẳng từ ngón nhẫn lên, gần mắt cá tay), ngoại quan (từ dương trì đo lên 2 thốn) và nội quan (từ điểm giữa nếp gấp cổ tay đo lên 2 thốn, ở giữa hai gân cơ gan tay lớn và gan tay bé), mỗi huyệt nửa phút với một lực vừa phải.

- Dùng ngón tay cái day ấn huyệt khúc trì (ở đầu lằn chỉ của nếp gấp khuỷu tay khi co khuỷu tay vào) và huyệt (ở dưới huyệt khúc trì 2 thốn), mỗi huyệt nửa phút với một lực vừa phải.

huyệt khúc trì

- Dùng tay nọ bóp tay kia từ vai trở xuống đến bàn tay trong 1 phút với một lực tương đối mạnh. Tiếp đó dùng tay trái nắm cẳng tay phải, nắm hờ bàn tay phải rồi vận động gấp, duỗi và xoay khớp cổ tay từ trái sang phải và ngược lại trong nửa phút, đổi bên làm tiếp như vậy với khớp cổ tay trái. Dùng bàn tay trái nắm từng ngón tay của bàn tay phải rồi kéo với một lực khá mạnh sao cho phát ra tiếng kêu là được, đổi bên làm tiếp như vậy với các ngón tay của bàn tay trái.

- Vận động gấp, duỗi và xoay khớp khuỷu, khớp vai trong 1 phút. Cuối cùng là thực hiện động tác vẩy tay: đứng thẳng, hai chân giang rộng bằng vai, thả lỏng toàn thân, đồng thời đưa hai tay về phía trước sao cho ngón tay cái ngang bằng rốn (tạo với cơ thể một góc 45 độ), tiếp đó đưa tay xuống và ra sau sao cho ngón út không vượt quá mông, cứ làm đi làm lại như vậy trong 2 phút.

huyệt đại lăng

Để phòng bệnh, cần cho các cơ bắp nghỉ ngơi thư giãn, thường xuyên xoa bóp để tăng tưới máu cho các nhóm cơ vùng vai, cổ và tay. Thường xuyên tập thể dục, nhất là với những người mà công việc bắt buộc phải ngồi nhiều, hoặc phải thực hiện những thao tác lặp đi lặp lại ở cổ tay. Khi làm việc, cần chọn tư thế hợp lý, ghế ngồi phải vừa tầm, mông cao hơn gối, lưng thẳng hay hơi ngả ra sau, tựa thắt lưng vào lưng ghế có ụ nhô ngang thắt lưng, hai chân chấm đất trong tư thế vững vàng nhưng thoải mái. Màn hình máy tính nên đặt ngang bằng hoặc thấp hơn tầm mắt một chút. Khi làm việc, những ngón tay có thể cong nhẹ hoặc duỗi ra mà không cần phải vặn cổ tay. Bàn phím tốt nhất nên đặt thẳng hoặc thấp hơn khuỷu tay. Thực hiện chế độ ăn giàu vitamin, đặc biệt là vitamin nhóm B.

BS. Thanh Trà

Trời đất bốn mùa ảnh hưởng đến sức khỏe con người

Học thuyết “ Sinh khí thông thiên luận sách Tố vấn” lại nói rằng: “Trên biết thiên văn, dưới biết địa lý, giữa biết nhân sự, thì có thể tồn tại được lâu dài”. Và cho rằng: “ Điều dưỡng thân thể mà không theo vào lẽ của tự nhiên thì tật bệnh sẽ phát sinh”.

Người xưa nói: “Loài người sống trên quả đất. Quả đất ở giữa khoảng không, không dựa vào đâu, mà nhờ sức của đại khí trong vũ trụ nâng đỡ nó để tồn tại. Mọi sự vật trong trời đất luôn luôn biến hóa, khí của trời luôn luôn giáng xuống, thấu đến đất. Khí của đất bốc lên thấu tận trời. Một khí đưa lên một khí giáng xuống, làm nhân quả lẫn nhau mà sinh ra biến hóa, gọi là Giao khí”. Con người sinh ra, hoạt động và tồn tại trong khoảng “giao khí” đó. Sự biến hóa của khí âm và khí dương trong trời đất không phải là trừu tượng, mà là cơ sở vật chất.

Trong thiên nguyên kỷ đại luận sách Tố vấn cho rằng: “ trời là phong, đất là mộc. Trời là nhiệt, đất là hỏa. Trời là thấp, đất là thổ. Trời là táo, đất là kim. Trời là hàn, đất là thủy. Cho nên khí của trời, hình của đất, hóa sinh lẫn nhau mà sinh ra vạn vật”. Lại nói: “ Hàn, thử, táo, thấp, phong, hỏa là âm dương của trời. Ba khí âm, ba khí dương ấy. Cảm ứng với sáu khí: Mộc, hỏa, thổ, kim, thủy của đất. Trong điều kiện hình với khí cảm ứng lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, mà phát sinh ra sự biến hóa, qua sự biến hóa ấy mà sinh ra vạn vật”. Sau khi sản sinh ra vạn vật, lại tiếp tục biến hóa để sinh ra qui luật: Sinh, trưởng, hóa, thu, tàng. Sự biến hóa ấy luôn luôn tương ứng với sự biến hóa của âm dương trời đất. Qua đó chúng ta thấy sự biến hóa của tự nhiên và sự biến hóa phát sinh phát triển của vạn vật, không tách rời sự biến hóa, mâu thuẫn, thống nhất của âm dương.

Như vậy sự sinh tồn, phát triển của mọi sinh vật đều trực tiếp chịu ảnh hưởng khách quan đó. Con người cũng không ngoài qui luật ấy. Người xưa cho rằng: “Trong trời, đất có đầy đủ vạn vật, nhưng không gì quí bằng con người. Người sống nhờ khí của trời đất, và tinh khí của mọi thức ăn đồ uống trong tự nhiên mà sinh tồn, theo qui luật Sinh, trưởng, thu, tàng, của bốn mùa mà trưởng thành, già yếu, bệnh tật và tử vong”. Người đời sau dựa vào đó mà đặt ra qui luật “Sinh, lão, bệnh, tử”.

Sự biến hóa khí hậu của bốn mùa ảnh hưởng đến con người như thế nào?

Tứ thời là xuân, hạ, thu, đông. Mỗi thời có khí hậu riêng của mình: Mùa xuân ấm, mùa hạ nóng, mùa thu mát, mùa đông lạnh. Nhưng trên thực tế chỉ có ấm và nóng thuộc dương khí. Mát và lạnh thuộc âm khí. Như vậy mùa xuân, mùa hạ thuộc dương. Mùa thu mùa đông thuộc âm. Nhưng sự nóng lạnh không thể tách rời nhau, theo qui luật tự nhiên trong dương có âm, trong âm có dương. Rồi đối với thời gian, địa điểm cũng không giống nhau. cho nên mỗi loại sinh trưởng và tàn lụi cũng không giống nhau. Đối với thực vật thì mùa xuân ấm áp nên nảy mầm, mùa hạ sinh trưởng tươi tốt, mùa thu dần dần thu lại, mùa đông thì tàn lụi. Đó là nói cái chung còn tùy theo từng vùng khí hậu. Ở xứ nhiệt đới gió mùa như nước ta thì mùa thu vẫn có sinh mùa hạ vẫn có tàn. Đối với con người cũng chia thành mấy giai đoạn: Sinh ra, trưởng thành, lớn mạnh, già yếu, tử vong.

Đó là qui trình tất yếu của một sinh vật. Sự biến hóa của âm dương bốn mùa là nguồn gốc của sinh, trưởng, suy, lão, tử vong của vạn vật, chứ không riêng gì của loài người. Nếu trái với sự biến hóa ấy thì sẽ sinh ra tai nạn, bệnh tật. Theo đúng sự biến hóa ấy thì bệnh tật không sinh ra. Người xưa dựa vào qui luật ấy để đề phòng bệnh tật. Để tìm ra qui luật biến hóa ấy, người xưa phải quan sát rất lâu dài có khi phải hàng trăm năm. Phân tích qui nạp những nhân tố ấy không có gì khác là: phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa. Khi không khí giao động là phong, nhiệt độ xuống thấp là hàn. Độ nóng lên cao là nhiệt, thấp độ tăng lên là thấp, ôn độ giảm xuống là táo. Khi thử và nhiệt tăng lên một mức cao hơn sẽ hóa thành hỏa.

Trong thực tiễn phong, hàn, thử, thấp, táo trong một số điều kiện nào đó cũng có thể hóa thành hỏa. Sự biến hóa của lục khí trong vũ trụ đều mang một ý nghĩa khác nhau: Táo để cho khô, thử để bốc lên, phong để chuyển động, thấp để nhuận, hàn để cứng, hỏa để ấm. Lục khí là sự biến hóa của khí hậu sinh ra, nhưng nó luôn luôn điều tiết sự chênh lệch lẫn nhau để không làm cho thái quá. Trong sự biến hóa bình thường là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển và sinh trưởng của con người và vạn vật. Nhưng trong thực tế mỗi sinh vật phải luôn luôn điều tiết để phù hợp với lục khí, nhất là khi có sự biến đổi đột ngột.

Với lục khí, đó là qui luật bình thường, để làm bình yên cuộc sống của vạn vật trên trái đất, trong đó có loài người. Nhưng mọi qui luật có bình thường thì có biến, có thuận thì tất nhiên có nghịch. Sự biến hóa trái thường thì không tốt đối với sự sống của vạn vật. Người xưa cho rằng: “ Phong khí sinh ra vạn vật nhưng cũng có thể làm hại vạn vật”. Như nước làm nổi thuyền nhưng cũng có thể làm lật thuyền, sự biến hóa khác thường của khí hậu người xưa gọi là “khí lục dâm”. Khí này đến bất cập quá, điều tiết không kịp làm đảo lộn sự sống của con người như lụt lội, hạn hán, bệnh tật đó là những thay đổi bất cập của khí hậu bốn mùa để con người và vạn vật sinh ra bệnh tật, và tử vong.

TTND.BS. Nguyễn Xuân Hướng

Bài thuốc trị sỏi niệu do thấp nhiệt

Y học cổ truyền gọi sỏi tiết niệu là chứng sa lâm, thạch lâm hoặc cát lâm. Người bệnh có biểu hiện chủ yếu là đau bụng, đau lưng, tiểu tiện ra máu, tiểu tiện khó... Bệnh có nhiều thể: can uất khí trệ, thấp nhiệt, thận hư…

Sỏi đường niệu.

Đối với thể thấp nhiệt, sỏi lâu ngày tích lại, thấp nhiệt trở trệ làm hao tổn chính khí dẫn đến hư nhược thể hiện: đau vùng thắt lưng, đau lan xuống bàng quang và cơ quan sinh dục kèm theo đái dắt, đái buốt, đái khó, ăn không ngon, thân thể nặng nề, gầy yếu, miệng khát nhưng không uống được nhiều, rêu lưỡi bẩn, mạch hoãn trầm. Phép chữa là lợi thấp hóa ứ, tán kết thông trở, bổ thận ích khí. Dùng một trong các bài thuốc:

Bài 1: Niệu lộ kết thạch thang: hải kim sa 15g, kim tiền thảo 15g, xa tiền tử 10g, mộc thông 10g, bạch linh 10g, thanh bì 10g, trần bì 10g, hoạt thạch 15g, hổ phách giã nát nghiền bột 3g. Sắc uống ngày 1 thang. Uống 15-20 ngày. Công dụng: lợi thấp hóa ứ, tán kết thông trở, bổ thận ích khí. Gia giảm:

Nếu nhiệt nặng thêm đại hoàng 10g, chi tử 10g, chích thảo 10g.

Thấp nặng, thêm trư linh 10g, ý dĩ 15g.

Đau kịch liệt, thêm huyền hồ 10g, tiểu hồi 5g, xích thược 15g, nga truật 15g.

Khí hư, thêm đảng sâm 20g, hoàng kỳ 15g, hoài sơn 15g.

Đái ra máu, thêm bồ hoàng 10g, đại tiểu kế 10g.

Thận hư, thêm tang ký sinh 15g, tục đoạn 15g, thỏ ty tử 10g, nhục quế 4g, phụ tử chế 3g.

Bài 2: hoạt thạch 20g, cam thảo 3g, hỏa tiêu 20g. Các vị nghiền nhỏ, ngày uống 2 lần, mỗi lần 2g, chiêu bằng thang kê nội kim 15g.

Bài 3: cỏ râu mèo (miêu tu thảo) 60g. Sắc uống.

Quả dứa khoét lõi cho phèn chua vào, nướng chín ép nước uống là bài thuốc dân gian trị sỏi niệu hiệu quả.

Bài 4: sừng bò sấy khô nhỏ lửa, tán bột mịn. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 9g, chiêu bằng rượu loãng và giấm gạo.

Bài 5: Niệu lộ bài thạch thang: kim tiền thảo 30g, thạch vĩ 30g, xa tiền tử 25g, mộc thông 10g, cù mạch 15g, biển súc 25g, chi tử 25g, đại hoàng 10g, hoạt thạch 15g, chích thảo 10g, ngưu tất 15g, chỉ xác 10g. Sắc uống ngày 1 thang. Uống 30 ngày. Công dụng: tiêu thạch thông lâm, hành khí hóa ứ, thanh nhiệt lợi thấp nhiệt.

Bài 6: Lấy 1 quả dứa, khoét 1 lỗ trong lõi, cho phèn chua 25g, đậy lại bằng miếng khoét, dùng tăm tre cố định. Nướng nhỏ lửa khoảng 30 phút, lấy ra ép lấy nước, chia uống nhiều lần trong ngày. Tác dụng làm tiêu sỏi thận phosphat.

Bài thuốc dùng ngoài: lấy 3 -5 củ hành sống, một nhúm muối ăn. Giã nát trộn đều, vê thành viên như quả táo, đặt vào các huyệt: thần khuyết, tiểu trường du, bàng quang du; băng lại, mỗi ngày thay thuốc 1 lần.

Vị trí huyệt:- Thần khuyết: huyệt ở ngay lỗ rốn.- Tiểu trường du: Dưới đốt xương thiêng 1, đo ngang 1,5 tấc, chỗ lõm giữa gai chậu sau-trên và xương cùng.- Bàng quang du: Ngang đốt xương thiêng 2, cách 1,5 tấc, chỗ lõm giữa gai chậu sau và xương cùng.

Lương y Thảo Nguyên

Lợi ích sức khỏe ít được biết của củ hành

Nước hành có thuộc tính kháng viêm có thể làm dịu vết bỏng da. Vì vậy, khi bị bỏng nhỏ, chỉ cần chà một lát cắt củ hành lên khu vực bị bỏng ...